Welcome
Mother and Child Orphanage
History
About CCSS
Profession of Vows
Memorial-Tuong Niem
Chia Se Thanh Kinh - Duc Cha Nguyen T. Hoan
Chia Se Thanh Kinh - Rev. Nguyen K. Hy, S.S.
Cam Nghiem Tu Doan - Yeu Thuong va Phuc Vu
Reflections CCSS Friends & Benefactors
Our Lady of Tapao
Poverty in Vietnam
Humanitarian Projects
--Clinics/Medical Facilities
--Planting & Processing Traditional Medicine
--Assistance to Lepers, Drug Addicts, the Disabled and Elderly
--Water Filtration Centers
--Pig Breeding Development Program
--Houses of Love
--Boarding Houses & Scholarships
--Milk for Malnourished Children
--Sewing Clothes for Poor Students
--Bicycles & Sandals Campaign
--Christmas Smiles Foods
News & Events
Mission Locations
Vocations & Contact
GIVING
News
e-mail me

Cam Nghiem Tu Doan - Yeu Thuong va Phuc Vu


 

 

 

"Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em,
thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.
Thầy đã nêu gương cho anh em,
để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.
(Ga 13:14-15)

 

   

 

xin click vào đây để đọc các bài chia sẻ của Thầy Giuse Đặng Xuân Tiếp:

Bí Mật Công Khai về Căn Tính Đức Giêsu
Giáo Hội Học
Vai Trò Ngôn Sứ

 

ĐAU KHỔ

Trong Nhãn Quan Tân Ước
và Ý Nghĩa Trong Thực Tại Hôm Nay

bài chia sẻ của Thầy Giuse Đặng Xuân Tiếp

 

TỔNG QUÁT

I.       DẪN NHẬP

II.      NỘI DUNG CHÍNH

1.       Khái niệm đau khổ

2.       Đau khổ trong nhãn quan Tân Ước

          Đau khổ - cuộc ngã giá vì Sự Thật

          Đau khổ - bài học của vâng phục

          Đau khổ - biểu chứng của tình yêu

          Đau khổ - mảnh đất tràn trề ân sủng

          Đau khổ là niềm hy vọng

          Đau khổ là niềm vui

          Đau khổ là niềm hạnh phúc

          Đau khổ là lộ trình dẫn tới vinh quang

3.       Ý nghĩa đau khổ trong thực tại hôm nay

          Ý nghĩa nhận thức

          Ý nghĩa nhân văn

          Ý nghĩa giáo dục

          Ý nghĩa siêu nhiên

III.     KẾT LUẬN

NỘI DUNG CHI TIẾT

I. DẪN NHẬP

Một vấn nạn con người vừa cất tiếng chào đời đã phải đối mặt. Một định nghĩa bi quan khi diễn tả về cuộc đời. Một thực tại mà dường như ta sinh ra là để chạy trốn nó. Và một chiều kích mà chỉ trong tôn giáo ta mới tìm được lời giải. Đó là đau khổ.

Đau khổ là đề tài khá quen thuộc không những trong lãnh vực triết học mà cả đối với suy tư thần học. Trong chiều kích tôn giáo, dường như suy tư thần học luôn phải đối mặt với chất vấn về đau khổ của con người qua mọi thời đại. Ki-tô giáo cũng không là ngoại lệ trước vấn nạn này. Thần học Ki-tô giáo không hề xem nhẹ vấn đề nhức nhối của con người - đau khổ. Nhiều tác phẩm, nhiều công trình nghiên cứu đã dày công truy tìm nguồn gốc, hiện tượng và ý nghĩa của thực tại đau khổ qua nhiều góc nhìn khác nhau. Ở đây, người viết chỉ mong góp một phần nhỏ suy tư về đau khổ trong nhãn quan của Tân Ước và ý nghĩa đau khổ trong thực tại cuộc sống hôm nay, hầu có thể góp thêm phần giải đáp cho những chất vấn của thời đại và đặc biệt là bài học bổ ích cho đời sống đức tin bản thân.

II. NỘI DUNG CHÍNH

1. Khái niệm đau khổ

Đau khổ là từ ngữ rất thông thường, gắn trên môi miệng của con người trong cuộc sống hằng ngày. Thế nhưng, để hiểu được một cách tương đối đầy đủ cả về ngoại diên và nội hàm của nó, ta không đơn giản dừng lại ở câu nói cửa miệng.

Nhìn từ góc độ ngôn ngữ, đau khổlà một từ ghép bởi hai từ đauvà khổ. Đây là hạn từ nhằm diễn tả con người ở một trạng thái tinh thần, tình cảm bị giày vò và đau đớn và rất khó chịu. Như thế, hạn từ đau khổ thường được hiểu ở khía cạnh tinh thần hơn là vật chất.

Dưới cái nhìn của triết học, xem ra khái niệm đau khổ được hiểu một cách rộng rãi hơn. Từ điển triết học định nghĩa đau khổ là trạng thái khó chịu khi một khuynh hướng không được thỏa mãn. Đau khổ, trong chiều kích này, được nhìn nhận cả về khía cạnh vật chất lẫn tinh thần. Đau khổ vật chất là cảm giác khó chịu do kích thích ngoại giới truyền lan vào thân xác hay tâm lý. Đau khổ tinh thần là những tình cảm khó chịu do tâm lý gây ra. Trên thực tế, đau khổ vật chất và đau khổ tinh thần có một mối tương quan biện chứng. Khi ta rơi vào trạng thái đau khổ vật chất thì tinh thần cũng không là nhân tố ngoài cuộc hay dửng dưng, và ngược lại.

Nhìn chung, đau khổ không phải là khái niệm quá trừu tượng bởi nó gắn liền với sinh mệnh con người. Lịch sử nhân loại đã không ngừng suy tư và tìm lời giải cho vấn nạn đau khổ nhưng có lẽ cũng chỉ là những cuộc phiêu lưu không hồi kết. Một cái nhìn ngang qua Kinh Thánh Tân Ước, phải chăng ta sẽ tìm được chìa khóa cho bài toán về  vấn nạn đau khổ?

2. Đau khổ trong nhãn quan Tân Ước

Kinh Thánh Cựu Ước cho thấy đã có một thời đạo lý cổ truyền tin rằng đau khổ là hình phạt bởi tội. Điều này đồng nghĩa với việc người ta xem đau khổ là lời chúc dữ đến từ Thiên Chúa. Nhưng hình ảnh ông Gióp, người công chính, cũng phải đau khổ, là dấu chứng để đặt lại vấn đề. Trong nhãn quan của Kinh Thánh Tân Ước, đau khổ được mặc lấy những giá trị mới mẻ và xác thực của nó.

2.1 Đau khổ - cuộc ngã giá vì Sự Thật

Nước Trời không giống như hàng hóa trao đổi, trả giá, lại càng không một thực tại nào có thể sánh bằng. Nhưng đường vào Nước Trời là con đường hẹp, đòi hỏi mọi công dân phải hy sinh đúng tầm mức. Trong Tin Mừng theo Mát-thêu, Chúa Giê-su đã từng nói: “Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo” (Mt 10,34). Đây là lời dường như đã hàm ẩn một viễn cảnh về cái giá phải trả vì Nước Trời. Và quả thực, để  chiếm hữu được Sự Thật, được Nước Trời, con người phải đánh đổi bằng đau khổ. Trong bài giảng về sự sụp đổ của thành Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-su đã minh định: “Nhưng trước khi tất cả các sự việc ấy xẩy ra, thì người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp cho các hội đường và nhà tù, và điệu đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy (Lc 21,12). “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu (Lc 21,17-18). Ở biến cố Đa-mát, Chúa Giê-su đã nói với Kha-na-ni-a về Sao-lô:

Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta (Cv 9,16). Khởi điểm đức tin, Phao-lô đã phải nếm mùi đau khổ: “suốt ba ngày, ông không nhìn thấy, cũng chẳng ăn, chẳng uống (Cv 9,9) và còn được tiên báo về một tương lai đầy gian lao thử thách. Và cũng chính Phao-lô đã nghiệm được cái giá của Nước Trời khi mình phải đau khổ: “ Thật thế tôi đã vô cùng đau khổ, con tim se thắt, nước mắt chan hòa khi viết cho anh em: tôi viết không phải để gây ưu phiền, nhưng là để cho anh em biết tôi hết lòng yêu mến anh em (2 Cr 2,4). Trong niềm xác tín, Phao-lô không còn so đo về sự được mất giữa đau khổ và Sự Thật nhưng như là một cuộc ngã giá, nghĩa là không còn phải mặc cả mà là một niềm tin tưởng, hy vọng vì Danh Đức Giê-su Ki-tô. Trong th? g?i ông Ti-mô-thê, Phao-lô nh?n m?nh ni?m xác tín ?y tr??c s? v? đã đ??c m?i g?i: “Chính vì những lý do ấy mà tôi phải chịu những đau khổ này; nhưng tôi không hổ thẹn, vì tôi biết tôi tin vào ai, và xác tín rằng: Người có đủ quyền năng bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho tôi, mãi cho tới Ngày đó (2 Tm 1,12). Thư thứ nhất gửi giáo đoàn Cô-ri-tô cũng viết: Vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em (1 Cr 6,20). Niềm hy vọng dường như đã chiếm hữu Phao-lô tiếp sức thắng vượt tất cả mọi rào cản vì chính ông đã ý thức được giá trị của Nước Trời: Thật vậy, tôi nghĩ rằng, những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta (Rm 8,18). Được chịu đau khổ vì Sự Thật còn là một mối phúc: “Quả thế, nhờ Đức Ki-tô, anh em đã được phúc chẳng những là tin vào Người, mà còn được chịu đau khổ vì Người” (Pl 1,29). Thư thứ nhất của Phê-rô cũng viết: Nếu có ai phải chịu đau khổ vì danh hiệu Ki-tô hữu, thì đừng xấu hổ, nhưng hãy tôn vinh Thiên Chúa vì được mang danh hiệu đó (1 Pr 4,16).

Như thế, ý nghĩa đau khổ trong nhãn quan Tân Ước không dừng lại ở chính chủ thể đau khổ nhưng là một chiều hướng đi tới. Đau khổ trong cái nhìn này có một lý do quý giá và mang một mục đích cao cả. Đau khổ là vì Danh Đức Giê-su Ki-tô, đau khổ để xứng đáng tham dự Nước Thiên Chúa như Phao-lô đã khẳng định: “Anh em sẽ được coi là xứng đáng tham dự Nước Thiên Chúa, chính vì Nước Thiên Chúa mà anh em chịu đau khổ (2 Tx 1,5).

2.2 Đau khổ - bài học của vâng phục

Đau khổ và vâng phục là hai phạm trù dường như không mấy liên hệ. Đau khổ diễn tả trạng thái, còn vâng phục lại ở thái độ, hành vi. Vậy, tại sao đau khổ lại có thể là bài học của vâng phục?

Đau khổ, trong nhãn quan của Tân Ước, như là cái giá để đổi lấy Nước Trời nhưng đau khổ cũng biểu lộ thái độ vâng phục. Tin Mừng đã thuật lại một cách chân tình, trong đau khổ cực độ, Chúa Giê-su đã kêu lên thảm thiết nhưng vẫn một mực theo Thánh Ý Cha: Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo như con muốn, mà theo như Cha muốn” (Mt 26,39), lạy Cha, nếu con phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin cho ý Cha thể hiện (Mt 26,42). Những lời này chứng thực tình yêu giữa Con và Cha qua sự vâng phục, đồng thời cũng xác nhận Đức Ki-tô đã chịu đau khổ thực sự. Là con người, Chúa Giê-su cũng mang lấy tất cả những nỗi khổ đau của kiếp người. Nơi Người, quy tụ mọi khổ đau của nhân thế và khổ đau ấy được đẩy lên tới tột đỉnh. Trong truân chuyên cực độ nhưng Người vẫn không buông xuôi, bỏ cuộc vì Thánh Ý Cha còn quý hơn gấp ngàn lần. Chúa Giê-su ý thức được giá trị của vâng phục và sẵn sàng tín thác trong Thánh Ý Cha. Tin Mừng Gio-an cho thấy Chúa Giê-su ý thức được sức mạnh  cứu độ của đau khổ: Thiên Chúa yêu mến thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để phàm ai tin vào Con của Người thì khỏi phải diệt vong, nhưng có sự sống đời đời (Ga 3,16) nên đã dấn bước tới đau khổ của mình, dấn bước trong sự vâng phục Chúa Cha. Chúa Giê-su biết trước lộ trình Người đi đầy đau khổ, chết chóc nhưng vẫn dấn thân để ý Cha được trọn hảo nơi mình. Sự dấn thân như thế là một cuộc mạo hiểm và nếu không có sức mạnh của tình yêu thì khó đủ can đảm tiến tới. Bí quyết của Chúa Giê-su để hóa giải mọi tình thế chính là yêu. Trong thư gửi tín hữu Phi-líp-phê, Phao-lô đã diễn tả bài ca tuyệt diệu về Chúa Giê-su trong thái độ khiêm hạ và vâng phục như sau:

Đức Giê-su Ki-tô

vốn dĩ là Thiên Chúa

mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì

địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang

mặc lấy thân nô lệ,

trở nên giống phàm nhân

sống như người trần thế.

Người lại còn hạ mình,

vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,

chết trên cây thập tự.

Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người

và tặng ban danh hiệu

trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.

(Pl 2,6-9)

Là Thiên Chúa nhưng Chúa Giê-su đã tự hạ mình làm kiếp phàm nhân, mặc lấy thân nô lệ. Điều này chứng thực Chúa Giê-su đã tình nguyện mặc lấy khổ đau để biểu lộ thái độ vâng phục Thánh Ý Chúa Cha, vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chịu chết vì tình yêu. Nói như thế, phải chăng trong nội tại Ba Ngôi Thiên Chúa, Chúa Giê-su thiếu cách thế để biểu lộ thái độ vâng phục với Chúa Cha?  Thực ra, nơi Thiên Chúa sự vâng phục đã là hoàn hảo rồi. Cách thế Chúa Giê-su tự hạ và vâng phục trong kiếp phàm nhân là để làm mẫu gương, làm bài học cho con người. Thư gửi Ga-lát đã viết rằng: “Để cứu chúng ta thoát khỏi cõi đời xấu xa hiện tại, Đức Giê-su Ki-tô đã tự hiến vì tội lỗi chúng ta, theo ý muốn của Thiên Chúa là Cha chúng ta (Gl 1,4).  Thư gửi tín hữu Do Thái cũng minh định: Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục (Dt 5,8). Như vậy, đau khổ cho ta kinh nghiệm và hiểu biết về cái giá của vâng phục. Chỉ có trong đau khổ, người ta mới cảm được thế nào là sống vâng phục.

Tân Ước đã khoác thêm cho đau khổ chiếc áo thật ý nghĩa để diễn tả thái độ vâng phục. Đau khổ mà chính Chúa Giê-su chịu và chịu trong thái độ vâng phục là mẫu gương tuyệt hảo vượt không gian và thời gian.

2.3 Đau khổ - biểu chứng của tình yêu

Người ta vẫn thường nói có yêu mới biết thế nào là đau khổ. Trong tình yêu có quả ngọt nhưng cũng đầy nước mắt. Hơn đâu hết, Kinh Thánh Tân Ước chất chứa một tình yêu nhưng không, vô biên của Thiên Chúa. Chính vì yêu mà Chúa Giê-su đã đến trong thế gian và hiến mạng vì nhân loại. Nói cách khác, những đau khổ mà Chúa Giê-su đã chịu là biểu chứng cho tình yêu, tình yêu đối với Chúa Cha và yêu thương con người.

Như đã đề cập trên đây, Chúa Giê-su biết trước con đường thập giá nhưng Người vẫn tiến tới, tiến tới trong sự vâng phục và vì tình yêu. Có thể nói rằng chính tình yêu hướng dẫn Chúa Giê-su đến với thập giá. Trong lời nguyện cùng Chúa Cha, Chúa Giê-su đã nguyện rằng: Con xin thánh hiến chính mình con cho họ, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến (Ga 17,19). Chúa Giê-su hiến tế chính mình không phải để vinh danh Người nhưng để làm giá chuộc muôn loài vì yêu. Cuộc nhập thể sống kiếp phàm nhân của Chúa Giê-su đã là một phép mầu của tình yêu. Đặc biệt, cuộc thương khó Chúa Giê-su chịu bắt bớ, sỉ nhục, bạt tai, khạc nhổ, phẩm giá của tù nhân bị khinh miệt, bị xử án bất công, bị đánh đòn, đội mão gai, chế nhạo, vác thập giá, đóng đinh, hấp hối và chết trên cây thập giá đã trở nên biểu chứng hùng hồn nhất cho tình yêu. Trong Tin Mừng Gio-an, Chúa Giê-su đã nói đến giá trị của đau khổ vì yêu: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13). Hy sinh, đau khổ vì người khác là biểu lộ, là bằng chứng thuyết phục nhất và cao cả nhất cho tình yêu. Thiên Chúa yêu mến thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để phàm ai tin vào Con của Người thì khỏi phải diệt vong, nhưng có sự sống đời đời” (Ga 3,16). Thiên Chúa ban Con Một Ngài để nhờ Con Ngài mà thụ tạo con người được chia sẻ thần tính, được sự sống đời đời. Phao-lô đã diễn tả hình ảnh Con Một Thiên Chúa tự hiến chính mình vì Hội Thánh rằng: Và như Hội Thánh tùng phục Đức Ki-tô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh (Ep 5,24-25). Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, Phao-lô cũng đã viết: Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta (Rm 8,32). Thiên Chúa yêu con người đến độ đã trao nộp cả Con Một Ngài. Điều này có nghĩa Thiên Chúa tình nguyện trở nên vật hiến tế vì yêu chúng ta. Chính Chúa Giê-su đã tự nhận mình là tội nhân, cho dù Người không hề phạm tội, nộp mình trong tay kẻ dữ xét xử. Có thể nói rằng vụ án Giê-su là vụ án bất công nhất trong lịch sử nhân loại. Câu danh ngôn tình yêu là cái khôn của người dại, là cái dại của người khôn nghe có vẻ ngược đời nhưng quả thực là có cơ sở. Người ta có thể chất vấn Thiên Chúa: Để biểu lộ tình yêu, Thiên Chúa có nhiều cách thế, tại sao Thiên Chúa lại chọn con đường thập giá? Thiên Chúa, như thế, đã chẳng dại khờ hay sao? Trong lý luận của con người, Thiên Chúa đã trở nên điên dại. Nhưng “cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người (1 Cr 1,25). Thiên Chúa đã dành tình yêu tuyệt đối cho nhân loại và cứu nhân loại bằng cách  thế hoàn hảo nhất và cao siêu nhất, đó là con đường thập giá. Chính tình yêu đã khơi lên một ước muốn đón nhận cuộc khổ nạn, vì khổ nạn là biểu chứng đáng tin cậy nhất của tình yêu. Tình yêu đã làm cho Chúa Giê-su có can đảm để quy hướng cuộc đời, tư tưởng và hành động của Người về giờ của đau khổ.

Đau khổ của Chúa Giê-su là tuyệt đỉnh và cái chết của Người là bằng chứng tối thượng của tình yêu. Mẫu gương tuyệt hảo ấy đã được các môn đệ (những chứng nhân Tin Mừng) của Người chia sẻ. Phao-lô, trong thư thứ hai gửi giáo đoàn Cô-rin-tô viết rằng: Thật thế tôi đã vô cùng đau khổ, con tim se thắt, nước mắt chan hòa khi viết cho anh em: tôi viết không phải để gây ưu phiền, nhưng là để cho anh em biết tôi hết lòng yêu mến anh em (2 Cr 2,4). Như thế, đau khổ là dấu chỉ biểu đạt tình yêu. Điểm đến chính là tình yêu và mục đích này quy hướng mọi hành động về nó. Yêu là trên hết và tất cả chỉ là lệ thuộc và thứ yếu mà thôi. Cũng vì tình yêu, các chứng nhân Tin Mừng còn hãnh diện và phấn khởi khi được chịu đau khổ vì người khác. Phao-lô nói rằng: Giờ đây tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh (Cl 1,24).

Như vậy, trong cái nhìn của Giao Ước mới, đau khổ là phương tiện hữu hiệu và cần thiết để làm biểu chứng cho tình yêu. Thiên Chúa đã chấp nhận trao Con Một Ngài vì tình yêu. Chúa Giê-su đã mượn con đường đau khổ để biểu lộ tình yêu với Chúa Cha và với nhân loại. Các chứng nhân Tin Mừng đã học được bài học đau khổ vì yêu nơi Đức Giê-su Ki-tô. Đau khổ, vì thế, đã được nâng lên một vị thế mới.

2.4 Đau khổ - mảnh đất tràn trề ân sủng

Chết và đau khổ vốn được xem là hai kẻ thù không đội trời chung của kiếp sống nhân loại. Ai ai cũng mang trong mình ước muốn thoát khỏi đau khổ và tìm mọi cách trốn chạy nó. Một thực tại đáng sợ như thế, tại sao lại có thể là mảnh đất tràn trề ân sủng? Chẳng lẽ giáo lý Đức Giê-su là liều thuốc phiện ru ngủ nhân dân như Marx đã tuyên phán?

Giáo lý Phật Giáo vẫn thường nói: cuộc đời là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều hơn đại dương. Điều này có nghĩa đau khổ là một thực tại hiển nhiên của cuộc sống con người. Chúa Giê-su đến không hủy bỏ đau khổ nhưng Người an ủi kẻ đau khổ”: Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an (Mt 5,5). Tân Ước cho thấy đau khổ không còn là hình phạt như Cựu Ước nhưng là mảnh đất tràn trề ân sủng của Thiên Chúa. Đau khổ không còn là thất vọng nhưng là chan chứa niềm hy vọng. Đau khổ không còn là nỗi u sầu nhưng là tràn ngập niềm vui. Đau khổ không còn là nỗi bất hạnh nhưng là hạnh phúc vô biên. Và đau khổ không còn là vô nghĩa nhưng đem đến cuộc sống vĩnh hằng.

2.4.1 Đau khổ là niềm hy vọng

Kinh Thánh Tân Ước đã tô thêm cho đau khổ một nét đẹp mới khi diễn tả ở chiều kích niềm hy vọng. Chúa Giê-su đã từng nói: Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời (Ga 12,24-25). Hạt lúa gieo vào lòng đất mà chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. Khi hạt lúa chết đi cũng chính là hứa hẹn một mùa bội thu tương lai. Cũng thế, chính đau khổ đã tiềm tàng về một niềm hy vọng cho tương lai trổ sinh hoa trái. Ở một đoạn khác, Chúa Giê-su còn nhấn mạnh: Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian”(Ga 16,33). Một lời quả quyết đảm bảo niềm hy vọng cho những ai cùng đau khổ với Đức Ki-tô. Đức Ki-tô là Đấng chiến thắng đau khổ. Chính Đức Giê-su đã tình nguyện đi vào con đường đau khổ (cho dù đã biết trước) bằng tất cả niềm hy vọng: nhờ đau khổ sẽ tuôn trào ân sủng cho nhân loại. Chiến thắng của Đức Giê-su Ki-tô trước đau khổ và cái chết là đích điểm vững chắc nhất cho tất cả mọi đợi chờ của con người trong đau khổ. Các chứng nhân đau khổ cũng đã thấm thía bài học về niềm hy vọng mà thầy Giê-su để lại. Phao-lô đã viết trong thư gửi giáo đoàn Phi-líp-phê rằng: Vấn đề là được biết chính Đức Ki-tô, nhất là biết người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết (Pl 3,10-11). Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, Phao-lô cũng viết:

Chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên, thì có quyền trông cậy. Trông cậy như thế chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta  (Rm 5,3-5).

Thư gửi tín hữu Do-thái còn nhấn mạnh rằng: “Quả thật, anh em đã thông phần đau khổ với những người tù tội, và đã vui mừng để cho người ta tước đoạt của cải, bởi biết rằng mình có những của vừa quý giá hơn lại vừa bền vững.…Vậy anh em đừng đánh mất lòng tin tưởng mạnh dạn của anh em; lòng tin tưởng đó sẽ mang lại một phần thưởng lớn lao (Dt 10,34-35). Phê-rô, trong thư thứ nhất, cũng viết: ”Cùng các bậc kỳ mục trong anh em, tôi xin có mấy lời khuyên nhủ, vì tôi cũng thuộc hàng kỳ mục, lại là chứng nhân những đau khổ của Đức Ki-tô và được dự phần vinh quang sắp tỏ hiện trong tương lai (1 Pr 5,1). Như thế, cái gốc của niềm hy vọng là ở lòng tin. Lòng tin là nguồn lực chủ đạo thắp sáng niềm hy vọng cho những ai trầm luân trong đau khổ vì những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta (Rm 8,18). Phần thưởng lớn lao dành cho những ai đau khổ biết đặt hy vọng vào Đức Ki-tô là đích điểm vững chắc trên lộ trình hướng về Trời Mới Đất Mới như sách Khải huyền đã khẳng định: Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất (Kh 21,4).

2.4.2 Đau khổ là niềm vui

Đau khổ là niềm vui. Kiểu nói này xem ra thiếu logic và nghe lạ tai. Nhưng thực tế Tin Mừng vẫn là những nghịch lý như vậy. Trong Tin Mừng Gio-an, trước giờ chịu nạn Chúa Giê-su nói với các tông đồ rằng: Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy (Ga 16,16). Trước giờ bước vào cuộc thương khó là những giây phút giày vò tâm can Chúa Giê-su. Người cũng đau khổ, day dứt lại còn đau khổ hơn khi không nhận được sự chia sẻ của những người thân tín là các tông đồ. Nên khi Người nói ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy” là câu nói trong tâm trạng đau đớn nhưng Người vẫn nghĩ đến niềm vui của cuộc trở lại. Điều này chứng tỏ ngay trong đau khổ đã mang mầm mống của niềm vui. Cũng trong bối cảnh trước giờ thương khó, Chúa Giê-su đã tiên báo cho các tông đồ về đau khổ sẽ là niềm vui: Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui (Ga 16,20). Rồi Chúa Giê-su nói tiếp: Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian. Anh em cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được (Ga 16,21-22). Như thế, chính đau khổ tác tạo người mới và đó là một niềm vui khôn tả. Đức Ki-tô cũng vậy, nhờ cuộc khổ nạn của Người, Người đã tác tạo một dân mới, một nhân loại mới. Đó không chỉ là niềm vui cho cuộc đời ngắn ngủi trần gian nhưng còn là niềm vui vĩnh cửu của những ai được tái sinh trong Đức Ki-tô. Thư thứ nhất của Phê-rô có đoạn viết: (1 Pr 4,13). Như vậy, đau khổ không còn là lời than thân trách phận nhưng quả thực là niềm hân hoan sung sướng vì cùng được đau khổ với Đức Ki-tô.

2.4.3 Đau khổ là niềm hạnh phúc.

Đau khổ vốn đem đến một niềm vui khôn tả, như thế đã là hạnh phúc rồi. Nhưng Tân Ước không dừng lại ở đó. Tân Ước còn nhấn mạnh hơn về chiều kích thâm sâu của hạnh phúc. 

Nếu như Cựu Ước thường đồng nhất giữa đau khổ và sự dữ thì Tân Ước lại nhìn ở một chiều kích tích cực hơn. Chính Chúa Giê-su đã không coi đau khổ như một vận số bất hạnh hay một tai nạn đáng tiếc. Mà trái lại, Người coi đau khổ như một thực tại tuyệt vời của đời sống trần gian. Khi Đức Giê-su loan báo trước Người sẽ được tôn vinh nhờ cái chết của Người, Đức Giê-su đã nói rằng: “Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến (Ga 12,27). Đau khổ chính là niềm vinh hạnh, là mãnh lực lôi cuốn Đức Giê-su. Chính vì đau khổ, vì giờ định mệnh ấy mà Người đến trần gian. Người đã muốn sống để mà chết. Lời giáo huấn trọng tâm của Tin Mừng cũng chính là Tin Mừng về đau khổ, đó là các mối phúc. Mát Thêu đã ghi lại lời chúc phúc của Chúa Giê-su: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an (Mt 5,5); phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao (Mt 5,10-12). Trong tám mối phúc, Chúa Giê-su đã dành riêng hai mối phúc cho đau khổ. Còn Theo Lu-ca, trong bài giảng về các mối phúc, Chúa Giê-su đều nói tới phúc của đau khổ như sau:

Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. Phúc cho anh là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao (Lc 6,20-23).

Cho dù có những mối phúc không trực tiếp nói tới từ đau khổ nhưng Chúa Giê-su cho thấy cái phúc dành cho tất cả những ai gặp gian truân khốn khó. Đó là phúc của cái nghèo, phúc của cái đói, phúc của giọt nước mắt và khi bị người ta sỉ vả, oán ghét. Chúa chúc phúc cho những ai mà người đời xem là vô phúc. Điều này xem ra đi ngược với hiện sinh của con người. Thế nhưng chính cái nghịch lý này lại là hạnh phúc đích thực, hạnh phúc vĩnh hằng.

Hơn ai hết, các chứng nhân của Tin Mừng là những người đầu tiên cảm được phúc đau khổ mà Chúa Giê-su đã dạy. Trong thư thứ hai gửi giáo đoàn Cô-rin-tô, Phao-lô nói trong niềm hân hoan rằng: “Vì cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Ki-tô, thì nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi (2 Cr 1,5). Và cũng “vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người (Rm 8,17). Được chỉa sẻ đau khổ của Đức Ki-tô là một hạnh phúc bất diệt. Đau khổ không là những mất mát và phi lý nhưng là điều kiện để cùng được chung hưởng vinh quang với Đức Ki-tô. Vì thế, Phao-lô vẫn luôn mong ước các tín hữu của mình biết chịu đựng theo mẫu gương tuyệt vời của Đức Ki-tô: Xin Chúa hướng dẫn tâm hồn anh em, để anh em biết yêu mến Thiên Chúa và biết chịu đựng như Đức Ki-tô (2 Tx 3,5). Phao-lô đã xác tín niềm hạnh phúc lớn lao ấy và quả quyết rằng: “Thật vậy, một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời (2 Cr 4,17). Đối với Phao-lô, sống là Đức Ki-tô. Đức Ki-tô chính là máu thịt, là hơi thở cho cuộc sống của con người lãnh hội được ý nghĩa của đau khổ như Phao-lô. Hạnh phúc ấy được tuôn trào nơi Phao-lô trên từng bước chân rao giảng về thập giá và vinh quang thập giá của Đức Ki-tô. Dường như Phao-lô đã không biết mệt mỏi trên những hành trình đầy cam go trong sứ vụ được mời gọi, không còn sợ hãi trước một thế lực trần gian nào. Đức Ki-tô là tất cả cho cuộc đời của Phao-lô vì đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợib(Pl 1,21).

Ta có thể nói rằng, Tin Mừng là tin mừng về đau khổ. Bởi lẽ ngay chính trọng tâm của Tin Mừng, Chúa Giê-su đã dành để nói về cái phúc của đau khổ. Đau khổ, như thế, đã hoàn toàn vượt trên tất cả những gì mà Cựu Ước nhìn nhận và cũng loại bỏ những gì do chính từ ngữ gợi ra. Đau khổ không còn là nỗi ám ảnh cho cuộc lữ hành trần thế nhưng là một lời chúc phúc đầy hứa hẹn và không kém phần hấp dẫn. Đó là một mối phúc mang tầm vóc lớn cho những ai biết cùng chịu đau khổ với Đức Ki-tô vì Nước Trời là của họ”

2.4.4 Đau khổ là lộ trình dẫn tới vinh quang

Đau khổ có thể diễn giải ở nhiều góc độ: là cuộc ngã giá, là bài học vâng phục, là biểu chứng tình yêu, là niềm hy vọng, là niềm vui và hạnh phúc,…nhưng tất cả đầu quy hướng về ơn cứu độ. Ơn cứu độ là điểm đến, là đích điểm cho cho mọi khổ đau của con người khi cùng hiệp thông vào mầu nhiệm đau khổ của Đức Ki-tô. Mọi nẻo đường cho dù xa xôi và hoa lệ đến mấy cũng nhằm tới cùng đích là vinh quang Thiên Chúa.

Kinh Thánh Tân Ước diễn tả vinh quang không phải một thứ man-na từ trời xuống nhưng hệ tại ở điều kiện nhất định. Điều kiện đó chính là đau khổ. Chúa Giê-su, cho dù là Thiên Chúa, vẫn không xem lộ trình này như là ngoại lệ cho mình. Tin Mừng Mát-thêu nói rõ: “Từ lúc đó, Đức Giê-su Ki-tô bắt đầu tỏ cho các môn đệ  biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh  sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại (Mt 16,21). Tin Mừng Mát-thêu nói đến ba lần Chúa Giê-su loan báo trước cuộc thương khó của Người. Điều này chứng tỏ Chúa Giê-su hoàn toàn tự nguyện và cho thấy đây cũng là kế hoạch đời đời của Thiên Chúa. Mác-cô cũng minh định: “Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày, sống lại (Mc 8,31). Tin Mừng Lu-ca cũng nói rằng: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ chỗi dậy (Lc 9,22). Khi nói về Ngày của Con Người, ngày Đức Ki-tô quang lâm, Lu-ca còn nhấn mạnh hơn về điều kiện phải có: “Nhưng trước đó, Người phải chịu đau khổ nhiều và bị thế hệ này loại bỏ” (Lc 17,25). Cả ba Tin Mừng đều nhắc lại điều kiện để đạt tới vinh quang như là một khẳng định vững chắc về chân lý. Chính Chúa Giê-su đã loan báo điều này trước về Người cho các môn đệ là Người sẽ phải chịu đau khổ, chịu chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Sự Phục Sinh cũng chính là vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện. Đây là giáo huấn Chúa Giê-su truyền dạy cho các môn đệ và chính Người đã thực thi chân lý này một cách triệt để là chịu đau khổ, chịu chết và Phục Sinh vinh hiển. Phao-lô đã diễn tả lộ trình này như sau:

Người lại còn hạ mình,

vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,

chết trên cây thập tự.

Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người

và tặng ban danh hiệu

trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.

(Pl 2,8-9)

Đau khổ là lộ trình đem tới ơn cứu độ. Đó là một chân lý: “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy (Mc 8,35). Các chứng nhân Tin Mừng đã thẩm thấu quy luật này khi cùng được đau khổ với Đức Ki-tô. Sách Công vụ Tông đồ đã khẳng định: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa (Cv 14,22). Thư thứ nhất của Phê-rô đã nói về anh em mình: “Thần Khí Đức Ki-tô ở nơi các ngài, đã báo trước những đau khổ dành cho Đức Ki-tô, và vinh quang đến sau những đau khổ đó, nên các ngài đã tìm hiểu xem Thần Khí muốn cho thấy việc đó xẩy ra vào thời nào, trong hoàn cảnh nào (1 Pr 1,11). Thư Do-thái thì viết: “Quả thật, anh em đã thông phần đau khổ với những người tù tội, và đã vui mừng để cho người ta tước đoạt của cải, bởi biết rằng mình có những của vừa quý giá hơn lại vừa bền vững…Vậy anh em đừng đánh mất lòng tin tưởng mạnh dạn của anh em; lòng tin tưởng đó sẽ mang lại một phần thưởng lớn lao” (Dt 10,34-35). Riêng Phao-lô đã đề cập chân lý về đau khổ một cách mạnh mẽ khi minh chứng Thiên Chúa phải trả giá đắt để cứu độ con người, cũng là để con người được dự phần vào vinh quang Thiên Chúa: “Vì Thiên Chúa đã Trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em (1 Cr 6,20). Vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người (Rm 8,17). Niềm xác tín vào đau khổ đem lại ơn cứu độ được Phao-lô diễn tả: “Quả thật, chúng tôi biết rằng Đấng đã làm cho Chúa Giê-su chỗi dậy cũng sẽ làm cho chúng tôi được chỗi dậy với Chúa Giê-su, và đặt chúng tôi bên hữu Người cùng với anh em” (2 Cr 4, 14). Chính trong niềm xác tín ấy, Phao-lô đã được tiếp sức một cách kỳ diệu khi phải chịu đau khổ:

Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt. Chúng  tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi. Thật vậy, tuy sống, chúng tôi hằng bị cái chết đe dọa vì Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân xác phải chết của chúng tôi  (2 Cr 4, 8-11).

Lộ trình đau khổ dẫn tới vinh quang là chân lý hiển nhiên được Tin Mừng nhắm tới như là mục đích tối hậu. Giá trị mang tầm vóc vĩ đại của đau khổ chính là đau khổ đưa tới vinh quang - ơn cứu độ. Cả cuộc đời Chúa Giê-su và giáo huấn của Người đều quy chiếu về điểm này. Chúa Giê-su, dù nhiệt tình rao giảng, dù lăn xả trên khắp mọi nẻo đường Palestina để đồng cam cộng khổ với con người, dù là một phút nghỉ ngơi sau một ngày mệt nhọc…cũng là vì ơn cứu độ cho con người. Đặc biệt, cuộc thương khó và cái chết của Người đã bộc lộ tất cả tình yêu mãnh liệt Thiên Chúa dành cho nhân loại, vì muốn cứu độ nhân loại và cũng “chính vì giờ này mà con đã đến (Ga 12,27). Vì ơn cứu độ, Thiên Chúa có thể làm tất cả, cho dù phải sống kiếp nô lệ, trở nên như tội nhân để mặc con người xét xử. Và vì bản thân người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách (Dt 2,18). J. Galot, trong tác phẩm Đấng chiến thắng nhờ đau khổ, đã viết: Đức Ki-tô đã biến đau khổ thành dụng cụ cứu độ, thành đại phương tiện giải thoát. Người mời gọi chúng ta tin rằng: mọi đau khổ được gửi đến cho chúng ta như một sứ mệnh cứu rỗi, rằng nếu biết quảng đại đón nhận và dâng hiến, đau khổ sẽ góp phần vào việc biến đổi thế giới, và làm cho nhân loại nên tốt hơn.”Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II cũng đã xác nhận: “Khi thực hiện ơn cứu độ bằng đau khổ, Đức Ki-tô đồng thời cũng nâng cao đau khổ của con người đến nỗi thông-ban cho nó một giá trị cứu độ. Như vậy, qua đau khổ của mình, mọi người đ?u có thể tham dự vào đau khổ cứu độ của Đức Ki-tô. Như thế, đau khổ đã mang chiều kích siêu nhiên và gắn kết với chương trình đời đời của Thiên Chúa.

3. Ý nghĩa của đau khổ trong thực tại hôm nay

Đau khổ là một thực tại đầy ám ảnh và bất toàn trong cuộc đời con người. Thế nhưng nó vẫn mang trong mình ý nghĩa lớn lao trên những nẻo đường tìm về sự trọn hảo. Ta có thể điểm qua một số ý nghĩa sau đây:

3.1 Ý nghĩa nhận thức

Nhận thức của con người vẫn thường được nảy mầm từ những tiền đề của cuộc sống. Chính từ những thực tại tồn hữu là nhân tố tạo trực quan sinh động để từ đây suy tư con người được khởi đi. Hơn lúc nào hết, chính khi đau khổ là dịp để con người nhìn lại cuộc đời, đối diện với chính mình. Đây chính là cơ hội tốt nhất để con người suy tư những vấn đề hệ trọng trong cuộc đời. Một bệnh nhân trong trạng thái đau khổ vì bệnh tật, dễ làm cho chủ thể đặt lại vấn về ý nghĩa cuộc sống mà có thể trước đây chưa bao giờ nghĩ tới. Một người đau khổ vì thất bại trong làm ăn, sẽ tạo dịp để người ấy suy nghĩ lại kế hoạch kinh doanh của mình, đặt lại vấn đề, và hàng loạt câu hỏi tại sao?”cần được truy tìm và giải đáp. Như thế, đau khổ là nguyên nhân thúc đẩy suy tư con người. “Khi bạn hiểu được nhân sinh là khổ thì bạn sẽ không sợ, không phiền lòng mà luôn luôn bình tĩnh đối mặt với mọi khó khăn, hỗn loạn”.

3.2 Ý nghĩa nhân văn

 Cuộc sống con người là sống trong mối tương giao với người khác. Không ai là một hòn đảo. Nhìn ở góc độ tương giao ấy, dù thế nào, dù cách trở không gian, thời gian, con người vẫn có một sự liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với đồng loại của mình. Tuy nhiên, mối tương quan ấy diễn ra ở mức độ nào, sâu hay nông, còn tùy vào nhiều ảnh hưởng khác nhau. Để thiết lập một tương quan chiều sâu là sự gặp gỡ trong chính thâm sâu con người, vấn đề không đơn thuần là những ràng buộc theo quy cách xã hội. Có lẽ ta sẽ khó cảm nhận được nỗi thống khổ của người khác khi chính mình chưa một lần là người trong cuộc. Người ta vẫn thường nói “đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Ai đã một lần bước qua đau khổ, người ấy sẽ có được trái tim dễ đồng cảm với nỗi đau của anh em mình. Như vậy, đau khổ chính là nhịp cầu để con người hiểu nhau hơn, dễ cảm thông với nhau và cũng từ đó xích lại gần nhau hơn trong tình đồng loại.

3.3 Ý nghĩa giáo dục

Ở một góc nhìn thông thường, người ta vẫn dễ dàng nhận ra đau khổ có một tác động lớn trong sự trưởng thành của con người. Khi đối diện với đau khổ, con người khám phá ra quy luật sống và từ đó tự bản thân né tránh hoặc khép mình vào những khuôn khổ nhất định. Ý thức được tai nạn giao thông là khủng khiếp để lại nỗi đau và mất mát lớn, tôi dễ dàng điều chỉnh hình vi tham gia giao thông của mình một cách theo hướng an toàn. Một phạm nhân sống trong cảnh tù đày, người đó sẽ dễ được thôi thúc bởi tinh thần sám hối và quyết định làm lại cuộc đời. Như thế, đau khổ là một quy trình tự giáo dục được thực thi một cách hiệu quả.

Xét trong chiều kích Ki-tô giáo, đau khổ còn là trường học tôi luyện đức tin rất tuyệt vời. Các nhà đạo đức gọi đó là một thử thách cao quý để chứng minh lòng trung thành của con người với Thiên Chúa. Tổ phụ Aùp-ra-ham trong Cựu Ước là một điển hình.

3.4 Ý nghĩa siêu nhiên

Cũng trong cái nhìn của Kitô giáo, đau khổ còn mang một ý nghĩa sâu xa, đó là động lực và ánh sáng dẫn đường để con người dễ dàng đến với Thiên Chúa, khao khát được tựa nương vào Ngài. Và chính nơi đây con người được kín múc suối nguồn tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Thiên Chúa chính là Chúa của những người đau khổ! Như đã trình bày ở phần trên về đau khổ trong nhãn quan của Tân Ước, mọi ý nghĩa của đau khổ sẽ lạc lõng nếu không quy hướng về giá trị lớn nhất là ơn cứu độ. Kinh Thánh Tân Ước đã khẳng định một cách chắc chắn về chân lý này. Ý nghĩa cứu độ của đau khổ là một ý nghĩa đưa con người tới cuộc sống vĩnh hằng. Đó cũng là ý nghĩa mà từ thẳm sâu tâm hồn con người đang mò mẫm tìm kiếm, vì “một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta cùng được hưởng vinh quang với Người (Rm 8,17). Lịch sử cứu độ đã minh chứng, Thiên Chúa có thể đổi đau khổ thành hạnh phúc hay đúng hơn qua đau khổ để đi đến vinh quang bất diệt.

III. KẾT LUẬN

Sống ở thời đại nào, ở thái cực hay môi trường văn hóa nào, con người cũng ý thức và cảm nghiệm được vấn nạn đau khổ. Nhưng cái nhìn về đau khổ khó gặp nhau được một cách trọn vẹn. Quả thật các vấn nạn của con người thì có tính phổ quát, còn câu trả lời còn mang màu  sắc văn hóa. Nếu như ở những thời son sẻ, con người ta cảm nhận và suy tư về đau khổ còn đơn điệu hay đúng hơn là hồn nhiên, thì ở trong thế gới hiện đại như  ngày nay vấn đề đã được khám phá mang tính khách quan và đi vào chiều sâu. Tuy nhiên dừng lại ở mặt tư tưởng (triết học), vấn đề đau khổ vẫn không tìm được chốn uyên nguyên nương thân, tức là bằng lý trí con người, ta không thể khám phá đầy đủ được vấn đề. Nẻo đường này sẽ dẫn đến một điểm dừng và ta chỉ còn biết vẽ vòng tròn chiêm ngắm.

Vấn nạn đau khổ chỉ có thể được lột tả khi đặt nó trong chiều kích tôn giáo. Các tôn giáo lớn trong lịch sử nhân loại đã đều chạm trán với vấn nạn đau khổ. Aán giáo, Phật giáo đều có những công hiến tích cực trong vấn đề giải mã bí ẩn đau khổ. Nhưng, xem ra Kitô giáo đã nắm được chìa khóa vì được cắm rễ sâu vào mảnh đất Tin Mừng. Kinh Thánh Tân Ước đã nâng đau khổ, vốn được xem là tai họa trong Cựu Ước, trở thành mối phúc lớn cho con người. Đau khổ trong nhãn quan của Tân Ước được phác họa như một bức tranh tươi sáng và tràn trề ân sủng Thiên Chúa. Đau khổ không còn là bị động như một tai nạn nhưng là một cuộc hiến dâng tự nguyện vì Nước Trời. Đau khổ không còn là vô nghĩa nhưng là bài học của vâng phục. Đau khổ không còn là sự dữ vì lỗi lầm nhưng là biểu chứng của tình yêu. Đau khổ không còn là nỗi thất vọng nhưng là niềm hy vọng tràn trề. Đau khổ không còn là nỗi buồn phiền nhưng là niềm vui bất diệt. Đau khổ không còn là bất hạnh nhưng là hạnh phúc vĩnh hằng. Và đau không còn là cái gì phi lý nhưng là đưa đến ơn cứu độ cho con người. Chúa Giê-su đã minh chứng tất cả những ý nghĩa đó bằng cả giáo huấn và con người của Ngài.

Nơi khuôn mặt của Đấng Tử giá, ý nghĩa đích thực của đau khổ được biểu lộ. Nơi Người, đau khổ không chỉ còn là một chuyện thường, nhưng đã trở thành một lý tưởng huyền nhiệm. Nó không còn là một hình phạt đè bẹp hay một gánh nặng mà người ta phải kéo lê vì bị Thiên Chúa dọa phạt: nó là một lễ dâng tự tình chấp nhận và được dâng lên Cha trên trời, trong một nhiệt tình mến yêu đền tạ.

Và từ đây ta có được một sự đợi chờ đầy hứa hẹn. Trong chiều kích Ki-tô giáo, ta không hề chạy trốn đau khổ nhưng là đối diện và hơn nữa là đón nhận nó. Một thái độ đón nhận trong tình yêu là cần thiết vì từ thập giá sẽ đi tới vinh quang. Nhận định của Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II sau đây có lẽ là lời kết thật ý nghĩa cho đề tài này:

Đau khổ của con người đã đạt tới đỉnh cao nơi cuộc khổ nạn của Đức Ki-tô. Đồng thời nó mang lấy chiều kích hoàn toàn mới mẻ và đã đi vào một trật tự mới: đau khổ được liên kết với tình yêu, tình yêu mà Chúa Ki-tô đã nói với Ni-cô-đê-mô, tình yêu làm nên điều thiện hảo bằng cách rút rỉa ngay từ sự dữ, ngay từ đau khổ, cũng như sự thiện cao cả nhất- tức là ơn cứu độ thế giới - đã được thực hiện qua thập giá Đức Ki-tô, và không ngừng khởi đi từ thập giá. Cây thập giá đã trở thành ngu?n mạch tuôn trào dòng nước đem lại sự sống (xc Ga7, 37-38). Cũng chính từ thập giá, chúng ta phải đặt lại câu hỏi về ý nghĩa đau khổ, và chúng ta tìm được lời giải đáp trọn vẹn cho câu hỏi đó.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.       Điển ngữ thần học Thánh Kinh. Đà Lạt: Phân khoa thần học Giáo Hoàng học viện Thánh Piô X, 1973.
2.       Kinh Thánh trọn bộ Cựu Ước và Tân Ước. TPHCM, 2002.
3.       Lý Giác Minh. Đàm đạo với Phật Đà. Hà Nội: NXB. Văn học, 2006.
4.       J. Galot. Đấng chiến thắng nhờ đau khổ. Vaiqueur par la souffrance.
5.       Doãn chinh. Kinh văn của các trường phái triết học Aán Độ. Hà Nội: NXB. Đại học Quốc gia, 2003.
6.       Lê Xuân Hoa. Nhập môn triết học Aán Độ. Chủng Viện Thánh Nicolas, 2005.
7.       Nguyễn Đăng trúc. Tiếp cận tư tưởng Việt Nam và vấn đề triết học. France: Định Hướng Tùng Thư, 1999.
8.       Nguyễn Ngọc Mỹ. Tìm từ Kinh Thánh Tân Ước. Hà Nội: NXB. Tôn Giáo, 2005.
9.       Hoàng Phê & tgk. Từ điển tiếng việt. Đà Nẵng, 1997.
10.     Trần Văn Hiến Minh. Từ điển và danh từ triết học. Sài Gòn: Ra khơi, 1966.
11.     Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II. Ý nghĩa đau khổ theo Kitô giáo. Éditions du centurion, 1984.

 

 

"NHÂN PHẨM"

bài chia sẻ của Thầy Giuse Đặng Xuân Tiếp

 

Từ Nhãn Quan Của Công Đồng Vatican II Đến Bối Cảnh Thực Tại Cuộc Sống Hôm Nay.

Phần I. DÀN BÀI TổNG QUÁT

A. DẪN NHẬP

B. NỘI DUNG CHÍNH

I. NHÂN PHẨM TRONG NHÃN QUAN CỦA CÔNG ĐỒNG  VATICAN II

1.         Giá trị của nhân phẩm
-           Trí tu
-           Lương tâm
-           Tự do
-           Tính bất diệt
2.         Nguyên nhân hạ giá nhân phẩm
3.         Lập trường của Giáo Hội
4.         Mẫu gương nhân phẩm tuyệt hảo - Đức Giê-su Ki-tô

II. NHÂN PHẨM TRONG THỜI ĐẠI MỚI

1.         Bối cảnh chung
2.         Xã hội Việt Nam
3.         Những nẻo đường cần thiết

C. KẾT LUẬN

Phần II. NỘI DUNG CHI TIẾT

A. DN NHP

Cuộc sống có biết bao nhiêu thành đô thú vị mà con người không ngừng mong ước và truy tìm, có biết bao quả ngọt mà con người không bỏ cơ hội được nếm thử và có biết bao men nồng mà con người luôn trong tư thế sẵn sàng chìm ngập. Nhưng đã không ít lần con người lại không tìm thấy chính mình hay phớt lờ cái sống còn của mình và làm nên sự hiện hữu của mình, đó là nhân phẩm. Vậy thì nhân phẩm được hiểu như thế nào dưới ánh sáng Công đồng Vatican II? Thực trạng nhân phẩm trong thế giới hôm nay là gì? Đâu là lối thoát cho vấn nạn nhân phẩm?

B. NI DUNG CHÍNH

I. NHÂN PHẨM TRONG NHÃN QUAN CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II

Người ta có thể nhắc tới nhiều vấn đề mà Công đồng Vatican II đã thông qua. Nhưng có lẽ nếu đã một lần tìm hiểu về công đồng, ít có ai lại không quan tâm tới Hiến Chế Gaudium et Spes (Hiến Chế Mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay). Một trong những nội dung mà Hiến Chế dành ưu tiên đặc biệt là nhân phẩm. Vậy nhân phẩm dưới ánh sáng công đồng được hiểu như thế nào?

1.  Giá trị của nhân phẩm

Khi bàn tới giá trị của nhân phẩm, công đồng lấy nền tảng Chân Lý vững chắc là Thánh Kinh. Công đồng khẳng định giá trị của con người hệ tại ở chỗ con người theo hình ảnh Thiên Chúa (MV, 12). Khác với các loài thụ tạo khác trên trần gian này, con người biết và yêu mến Đấng Tạo Dựng nên mình. Con người làm chủ muôn loài và con người có xã hội tính. Thực vậy, tự bản tính thâm sâu của mình, con người là một hữu thể có xã hội tính và nếu không liên lạc với những người khác con người sẽ không thể sống và phát triển tài năng mình (MV, 12). Như thế, giá trị của con người vừa mang tầm vóc thần linh, lại vừa là đỉnh cao của xã hội tính mà không một thụ tạo nào sánh kịp.

Trong khi đề cập tới giá trị nguyên bản của con người, công đồng cũng nhắc tới tội lỗi đã làm hoen ố giá trị ấy. Và chính Đức Ki-tô xuống thế làm người đã khôi phục lại hình ảnh tốt đẹp thuở ban đầu của con người. Người ta có thể nhìn nhận con người ở nhiều góc độ khác nhau. Nhưng với công đồng, con người là duy nhất với xác và hồn. Con người có trí tuệ, có lương tâm, có tự do và mang tính bất diệt.

Công đồng nhìn nhận giá trị của trí tuệ làm cho con người vượt trên mọi thụ tạo. Trong suốt dòng lịch sử nhân loại, trí khôn con người không ngừng phát triển và mang lại nhiều khám phá sâu xa, không chỉ ở thế giơí hiện tượng mà cả thực tại siêu hình. Công đồng khẳng định: Thực vậy, trí khôn con người không hẳn chỉ giới hạn trong những hiện tượng mà thôi, nhưng còn có thể thấu triệt thực tại siêu hình một cách thực sự chắc chắn, cho dù trí tuệ phần nào đã bị mờ tối và suy nhược do hậu quả của tội lỗi (MV, 15).

Với lương tâm, công đồng cho thấy đó là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Ngài vang dội trong thâm tâm họ (MV, 16). Trở về với lương tâm, con người được học hỏi về những điều ngay lẽ phải và xa lánh điều bất chính. Đây là một sự mặc định của Thiên Chúa nơi con người. Phẩm giá của con người chính là biết lắng nghe những  thanh âm phát ra t  điều đã được phú bẩm này. Công đồng cũng cảnh tỉnh với thứ lương tâm sai lạc, mù quáng. Tuy nhiên, không vì thế  mà nhân phẩm bị triệt tiêu hoàn toàn.

Với tự do, công đồng khẳng định tự do mang một ý nghĩa cao cả: Tự do đích thực là dấu chỉ cao cả nhất của hình ảnh Thiên Chúa trong con người (MV, 17). Công đồng cũng không quên khuyến cáo những nguy hại của lối nhìn tự do mang tính tuyệt đối dẫn tới con người có thể làm bất cứ điều gì mình thích, kể cả điều xấu. Con người là một thụ tạo nhưng không vì thế mà mất đi tính tự quyết cho cuộc đời của mình. Giá trị ở chỗ là Thiên Chúa ban cho con người tự do để tự định liệu số phận, tự mình biết tìm đến Đấng Tạo Dựng và kết hợp với Ngài để đạt tới sự hoàn thiện và hạnh phúc đích thực. Như thế, phẩm giá của con người đòi hỏi con người phải hành động theo ý thức, theo sự hướng dẫn tự bên trong, chứ không theo một sức ép nào từ ngoại giới. Khôn khéo của con người chính là biết chọn lựa theo điều thiện. Nhưng không phải là một chọn lựa dễ dàng bởi tự do của con người phần nào đã bị tổn thương do tội lỗi. Chính vì thế, để đạt tới tự do viên mãn, con người cần phải nhờ tới trợ lực của ơn Chúa.

Giá trị của nhân phẩm con người theo hình ảnh Thiên Chúa còn được bày tỏ ở tính bất diệt. Từ ban đầu, con người đã mang trong mình sự sống bất diệt vì được thông phần vào sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa. Tuy nhiên chính tội lỗi đã đánh mất giá trị vô cùng to lớn ấy, đã cắt đi sự liên lạc sự sống của con người với Thiên Chúa - Đấng có quyền trên sự sống. Chính vì thảm họa này mà cuộc sống trần gian của con người luôn bị ám ảnh  bởi thần chết. Đó là nỗi sợ hãi lớn nhất của cuộc đời con người. Nhưng Thiên Chúa vốn đầy yêu thương đã không để thụ tạo mà Ngài rất chiều chuộng lại phải hư mất đời đời. Chính Con Một Thiên Chúa, Đức Giê-su Ki-tô, đã đánh bại thần chết và lấy lại cho con người những gì đã bị đánh mất vì tội. Ở điểm này công đồng nêu rõ: Chúa Ki-tô đã đem lại chiến thắng ấy khi Người sống lại và nhờ cái chết của Người, Người đã giải phóng con người khỏi sự chết. Vậy đức tin với những lý chứng vững chắc đem lại giải đáp cho bất cứ ai khắc khoải ưu tư về số phận tương lai của mình. Đồng thời đức tin còn cho con người khả năng hiệp thông với những anh em thân yêu đã chết trong Chúa Ki-tô, và làm cho họ hy vọng rằng những người ấy đã được sống thực sự nơi Thiên Chúa” (MV, 18).

Như vậy, giá rị của nhân phẩm đã được công đồng nhìn nhận một cách toàn diện và trên cơ sở vững chắc. Công đồng không nói đâu xa ngoài nền tảng ánh sáng mặc khải từ Thánh Kinh. Và chỉ trong chiều hướng này, nhân phẩm mới được diễn tả đầy đủ ý nghĩa đích thực như nó vốn có. 

1.         Nguyên nhân h giá nhân phm

Dọc theo chiều dài lịch sử nhân loại, con người nhìn nhận về chính mình như một khu rừng mênh mông đầy kỳ hoa dị thảo. Ơû mỗi thời, lối nhìn mang những màu sắc  và điểm nhấn khác nhau. Trong đó, công đồng đặc biệt lưu ý lối tiếp cận của trường phái vô thần.

Trước hết, công đồng cho thấy hiện tượng vô thần ở nhiều dạng thức khác nhau khởi đi từ những nguyên nhân cũng không đồng nhất: sự  chủ trương của triết thuyết như phủ nhận Thiên Chúa, quả quyết con người không thể nhận biết gì về Thiên Chúa, đặt vấn đề Thiên Chúa một cách lệch lạc vô nghĩa; đầu óc nặng khoa học muốn áp dụng khoa học ở ngoài phạm vi của nó; chủ nghĩa nhân bản quá đề cao con người, Thiên Chúa trở thành thứ yếu, coi giá trị nhân bản như tuyệt đối; quan niệm sai lầm về Chúa như từ chối một Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của mặc khải hay đặt vấn đề tin nơi Thiên Chúa để làm gì; vấn nạn sự dữ làm con người vốn yếu đuối khó tin được có Đấng đang quan phòng cuộc đời mình và những mặt trái của nền văn minh hiện đại cũng là nguyên nhân không nhỏ góp phần hạ giá nhân phẩm. Ngay cả nền văn minh hiện đại nhiều lúc có thể làm cho khó đến với Thiên Chúa hơn, không phải tự nó, nhưng vì nó quá bám víu vào những thực tại trần gian” (MV,19).

Bên cạnh những lý do khách quan trên, công đồng cũng chân nhận có thể do tội của cá nhân, có thể vì các tín hữu chưa được đức tin đào tạo, vì nhiều khi trình bày đức tin khờ khạo hay đời sống không phù hợp với đức tin, đặc biệt là sinh hoạt xã hội. (x. MV, 19)

Trong thời đại mới, công đồng nhận thấy vô thần nhiều khi cũng được trình bày như một hệ thống. Hệ thống này quá nhấn mạnh đến khát vọng tự lập của con người đến độ làm cho  khó chấp nhận một sự lệ thuộc nào vào Thiên Chúa. Con người ở đây được nhìn nhận như là cùng đích của chính mình, con người kẻ tạo nên và điều khiển lịch sử của mình. Chủ thuyết này xem ra được tiếp tay bởi những tiến triển về kỹ thuật làm cho con người có cảm tưởng mình đầy thế lực và sẵn sàng gạt bỏ tất cả những gì cản trở thế lực này. Trong số những hình thức vô thần hiện đại này, công đồng lưu ý hình thức vô thần mong giải phóng con người, nhất là giải phóng về phương diện kinh tế và xã hội. Hình thức vô thần này chủ trương tôn giáo là sản phẩm của những bất lực của con người trước những thách đố, tôn giáo ru ngủ con người làm sao nhãng việc xây dựng xã hội dương thế.… Với lập trường này, họ bằng mọi cách bài trừ tôn giáo ra khỏi cuộc đời con người.

Quả thực khi truy tìm những căn nguyên làm mờ nhạt hoặc méo mó hình ảnh con người, công đồng đã dày công đi sâu vào lối di của những nẻo đường vô thần. Bởi vì chính trong nhãn quan của vô thần, con người không còn là mình đích thực với đầy đủ ý nghĩa như nó vốn có. Mỗi khi đã cắt khúc con người thành những mảnh rời rạc thì nhân phẩm cũng bị chia phần giá trị hay đúng hơn là không được nhìn nhận một cách đúng nghĩa. Cái nhìn của công đồng như thế là vừa chi tiết vừa có tính bao quát được vấn đề.

2.  Lp trường ca Giáo Hi

Đứng trước những biến chuyển vô cùng phức tạp và đa diện của lịch sử, nhất là trong thời đại mới, công đồng một đàng bình tĩnh nhìn nhận thực trạng nhưng đàng khác cũng kiên cường bày tỏ lập trường của Giáo Hội. Công đồng quả quyết: Trung thành với Thiên Chúa cũng như với con người, Giáo Hội không thể không tiếp tục phi bác với nỗi đau buồn và với tất cả sự cương quyết, như đã từng phi bác, những chủ thuyết vô thần và những hành động nguy hại đi ngược lại lý trí và kinh nghiệm chung của con người cũng như làm cho con người mất đi sự cao cả bẩm sinh của mình (MV,20). Như thế vì trung thành với Đấng Tạo Dựng và vì nhân phẩm, Giáo Hội không thể không bác bỏ vô thần. Mặt khác, Giáo Hội mong muốn đối thoại với người vô thần và trình bày với họ rằng vô thần thiếu nền tảng vững chắc. Bởi vì nhân phẩm đòi hỏi con người phải cậy dựa vào Đấng tạo ra mình. Và trong niềm tin vào Thiên Chúa, con người không đánh mất chính mình, không cản trở việc sinh hoạt xã hội. Trái lại, trong niềm tin, con người được nâng lên một tầm mới, được tạo động lực giúp hoàn tất những bổn phận trần gian. Nếu thiếu căn bản là Thiên Chúa và thiếu hy vọng về đời sống trường cửu, phẩm giá con người sẽ bị tổn thương cách trầm trọng như thường thấy những thắc mắc căn bản, trước hết về ý nghĩa chính con người, không giải thích được. Công đồng cũng cho thấy Giáo Hội tha thiết mời gọi con cái mình dấn thân vào sứ mạng chung này bằng cách biểu lộ đời sống đức tin sống động và trưởng thành để có thể thắng vượt mọi thử thách. Cuộc sống của mỗi kitô hữu phải trở nên chứng nhân giữa trần gian cho lòng thương xót của Chúa cũng như cho tinh thần hiệp thông trong tình anh em với nhau. Giáo Hội cho dù hoàn toàn bác bỏ chủ thuyết vô thần nhưng không vì thế mà Giáo Hội đối đầu với người vô thần “nhưng vẫn thành thực tuyên bố rằng mọi người dù tin hay không tin, cũng đều phải trợ lực cho việc xây dựng thế giới này được hợp lý, là nơi họ đang chung sống: điều ấy chắc chắn không thể có được nếu thiếu cuộc đối thoại thành thực và khôn ngoan (MV, 21). Giáo Hội không ngừng đấu tranh cho quyền tự do biểu lộ đời sống đức tin của con cái mình và cũng nhân ái mời gọi anh em vô thần nghiên cứu Phúc Aâm Chúa Kitô với một tinh thần cởi mở.

Đối diện với thách đố chủ nghĩa vô thần, nguyên nhân sâu xa làm hư hoại nhân phẩm, Giáo Hội nhận thấy vấn đề không đơn giản để có thể làm thỏa lòng mong muốn của con cái mình. Một mặt Giáo Hội luôn ý thức tự thanh luyện chính mình, mặt khác không ngừng nỗ lực trong sứ mạng và trên hết là trông cậy vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa.

3.  Mu gương nhân phm tuyt ho - Đc Giêsu Kitô

Nhân loại vẫn và sẽ còn trong vòng luẩn quẩn nếu như không tiếp cận được với Con Người Mới là Đức Giêsu Kitô. Con người vẫn là một huyền nhiệm, cho dù lịch sử đã tốn bao công sức cho việc giải mã con người nhưng khó tìm được lời giải thỏa đáng cho những thắc mắc căn bản. Đôi lúc công cuộc đó còn đưa dẫn tới những nẻo đường làm méo mó hình ảnh con người như nó vốn có. Vì thế, không tốn công sức đi theo những dấu chân mơ hồ của lịch sử, công đồng trở về với nguyên bản - nơi con người được sinh ra - là Thiên Chúa. Nơi Thiên Chúa, mầu nhiệm con người được sáng tỏ qua Ngôi Lời nhập thể, Đức Giêsu Kitô.

Công đồng cho thấy Đức Kitô là Ađam mới. Người là con người hoàn hảo đã khôi phục hình ảnh Thiên Chúa đã bị tội nguyên tổ làm sai lệch. Người là con người như bao con người bằng xương bằng thịt, sống và sinh hoạt bằng tất cả thiên chức con người giữa mọi người. Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta mọi sự, ngoại trừ tội lỗi (MV, 22). Người đã tự hiến mình làm giá chuộc tội cho nhân loại. Chính trong Người, Thiên Chúa đã hòa giải con người với Thiên Chúa và hòa giải con người với con người. Người trở nên mẫu gương tuyệt hảo về hình ảnh con người đích thực, để những ai tiếp bước theo Người cũng sẽ được trở nên con người hoàn hảo và chung hưởng hạnh phúc bất diệt với Người. Người kitô hữu mỗi khi biết đáp trả tình yêu của Thiên Chúa, họ nhận được “những hoa trái đầu mùa của Thánh Thần (Rm 8, 23). Chính Chúa Thánh Thần sẽ ban sự sống cho những ai biết cùng chết với Đức Kiô, vì khi cùng chết với Đức Kitô ta sẽ được cùng sống lại với Người. Công đồng cũng nhắc nhớ điều này không chỉ không phải chỉ có giá trị cho các tín hữu nhưng cho tất cả những ai có thiện chí được ơn thánh hoạt động một cách vô hình trong tâm hồn (MV, 22).

Khép lại chương bàn về nhân phẩm bằng một mẫu gương con người tuyệt hảo, công đồng cho thấy giá trị của con người khởi đi từ Thiên Chúa và cũng chỉ trong Thiên Chúa con người mới là con người đích thực. Con người ấy phải quy hướng về con người tuyệt hảo là Đức Giêsu Kitô.

II. NHÂN PHM TRONG THI ĐI MI

Khi đặt vấn đề nhân phẩm trong thế giới hôm nay, phải chăng thời đại của Công đồng Vatican II đã xưa với chúng ta? Thưa không, cho dù Công đồng Vatican II diễn ra và kết thúc vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, thế kỷ đã chia tay với con người hôm nay. Chúng ta đang sống trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, nhưng về cơ bản vẫn là một sự liền mạch của thế kỷ trước, nghĩa là những gì công đồng đã nhìn nhận về thế giới trong thời đại mới vẫn không là khoảng cách cho thực tại hôm nay. Tuy nhiên, thế giới không ngừng biến đổi từng ngày. Cái tôi đang sở hữu hôm nay ngày mai đã là quá khứ rồi. Thế giới không ngừng chuyển dịch theo kiểu ví von  của các triết gia không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Vì thế, tuy nhìn chung vẫn là bối cảnh thời công đồng nhưng thực trạng hôm nay đã mang nhiều màu sắc mới. Thiết tưởng ta cũng nên lược qua.

1.  Bi cnh chung

Xã hội hôm nay quả thực đang đứng trước những đổi thay chóng mặt. Vấn đề nhân phẩm, trước một xã hội đa chiều, phức điệu, dường như cũng chuyển mình trong một quỹ đạo ấy. Công đồng Vatican II, trong phần nhập đề của Gaudium et Spes, đã dày công nhìn vào thực trạng thân phận con người trong cuộc sống hiện tại. Công đồng đã nhìn nhận con người đang cưu mang nhiều hy vọng nhưng cũng không ít những lo âu. Nhân loại ngày nay đang sống vào một giai đoạn mới trong lịch sử của mình. Đó là giai đoạn chất chứa những đổi thay sâu xa và mau chóng đang dần dần lan rộng tới toàn thể hoàn cầu (MV, 4). Đổi thay đó là trạng thái thừa thãi và đói khát, tiến bộ và mù chữ, khát vọng tự do và nhiều thứ nô lệ, xuống cấp trong đời sống tôn giáo, lạc hướng của giới trẻ, tuyên xưng vô thần…Quá trình chuyển dịch ấy đã ít nhiều tác động đến thước đo con người. Vậy thì thân phận con người hôm nay được đo lường như thế nào? Nói cách khác, thực trạng nhân phẩm trong xã hội ngày nay là gì? Vấn đề có lẽ được diễn tả ở nhiều khía cạnh khác nhau.

Chiến tranh, khủng bố. Đề tài chiến tranh có lẽ không xa lạ với bất kỳ thời đại nào nhưng dù thế sao vẫn là mối đe dọa lớn cho thân phận con người. Đặc biệt, cuộc sống nhân loại hôm nay đang đối diện với nạn khủng bố hoành hành khắp đây đó như cơm bữa hàng ngày. Điều này cho thấy một nhận thức về nhân phẩm bị méo mó, tả khuynh và trở thành mối nguy hiểm cho mạng sống con người. Con người như thế dường như đang bị nô lệ, bị mê hoặc vào những cái nhìn cực đoan hay một niềm tin hão huyền, lệch lạc. Con người vì thế không còn là chính mình nữa.

Phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giàu nghèo. Lịch sử nhân loại là con đường phát triển đi lên. Cuộc sống hiện tại cho thấy con người đã và đang đạt tới những tiến bộ vượt bậc về khoa học - kỹ thuật. Một nền văn minh vật chất  thời hoàng kim  đang phô bày trước thế giới. Thế nhưng, như thế không đồng nghĩa với văn minh tinh thần đang lên ngôi. Con người đã đạt tới trình độ nhận thức cao nhưng đâu đây trên thế giới vẫn xuất hiện kiểu đối xử kỳ thị màu da, tôn giáo, phân biệt chủng tộc. Sự phân biệt vẫn còn dấu vết trong tâm tưởng, trong nhận thức, trong việc đối xử văn hóa và thậm chí trong cả những cuộc chiến bạo lực. Thế giới đã từng chứng kiến những cuộc đổ máu giết chết hàng triệu người cũng chỉ vì đầu óc phân biệt sắc tộc. Cuộc đại chiến thế giới thứ II (1939 -1945) là một điển hình. Những kiểu đối xử tàn bạo như thế ngày nay tuy không ở một quy mô lớn nhưng vẫn rải rác và tiềm ẩn mối nguy cơ lớn cho cuộc sống hòa bình và mạng sống người vô tội. Nhiều nhà xã hội học đã và đang dự báo về những cuộc nổi loạn vì tôn giáo trong thế giới hiện tại và tương lai. Và quả thật nhân loại đã và đang đối diện với những thế lực cực đoan kỳ thị tôn giáo, coi thường giá trị tự do tín ngưỡng của con người. Bên cạnh đó, sự phân biệt giàu nghèo cũng là trở ngại lớn cho ước vọng một nền văn minh tình thương. Tưởng chừng như một thế giới phát triển sẽ lấp đi những cái nghèo cơ cực nhưng ngược lại, hố sâu ngăn cách giàu nghèo lại càng thăm thẳm. Của cải khổng lồ của thế giới chỉ tập trung vào một thiểu số. Bên cạnh những cuộc sống nhung lụa thừa thãi lại có những người chỉ mong được lót dạ bằng một chén cơm thừa. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các quốc gia, giữa các vùng, và ngay trong từng quốc gia hay từng địa phương nhỏ là hình ảnh diễn ra trở nên thông thường. Hình như trong thế giới phát triển, người giàu lại càng giàu và người nghèo lại càng nghèo hơn?

Như thế, chính sự phân biệt sắc tộc, tôn giáo, giàu nghèo cho thấy nhân phẩm đang bị hạ giá, bị đối xử bất công hoặc thậm chí bị chà đạp.

Coi thường sự sống thai nhi. Nhân phẩm rẻ rúng hơn cả có lẽ là thái độ của con người đối với thai nhi - những con người không tự bảo vệ được cho chính mình. Có lẽ xuất phát từ nhiều căn nguyên như cái nhìn sai lạc về con người; lối sống ích kỷ, buông thả; ý thức về sự sống nông cạn; kể cả những tiếp tay quá đà của khoa học kỹ thuật mà tình trạng phá thai trở nên kinh hoàng trong thực tại hôm nay. Con người hôm nay dường như không còn ý thức về sự sống thai nhi. Người ta vô cảm trước những cái chết oan ức, đau thương của những kiếp người nhỏ bé. Các thai nhi bị giết hàng ngày đã trở nên quen thuộc và không mấy ai quan tâm. Nhiều quốc gia trên thế giới đã hợp thức hóa tình trạng phá thai một cách hợp pháp bằng luật lệ. Sự sống đã và đang bị tiêu diệt một cách hợp pháp thì quả thực là một thất bại thê thảm của lịch sử nhân loại. Năm 1972 phán quyết của Tòa Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cho phép phá thai đã mở màn cho việc hợp thức hóa phá thai trên khắp đất Mỹ. Và kết quả là hàng triệu thai nhi vô tội đã bị giết chết một cách hợp pháp. Phán quyết của tòa chỉ vì lý do rằng vì quyền riêng tư của phụ nữ. Nhưng như thế liệu quyền riêng tư của thai nhi cũng như  quyền riêng tư của những người chồng, người cha muốn bảo vệ sự sống và quyết định tương lai của trẻ nhỏ có được bảo đảm không? (xem  Simonhoadalat.net). Khi thực hiện một tội ác con người cũng lắm lý do để biện minh và đôi lúc như là một sự hợp lý, hợp thời nhưng bản chất lại là hành động chống lại chính con người một cách trá hình.

Cái nhìn lệch chiều, phiến diện. Công đồng Vatican II đã nhấn mạnh đến điểm này như là căn nguyên của việc hạ giá nhân phẩm. Công đồng đã nhìn thấy cái lệch chiều, phiến diện trong chính chủ trương vô thần. Bởi một khi người ta phủ nhận Thượng Đế hoặc không đặt vấn đề Thượng Đế thì con người vốn mỏng manh lại càng mong manh trước biển đời, con người như không còn điểm tựa hay cũng chỉ là động vật cấp cao và sẽ tiêu tan như một sinh vật chỉ sống trong cơ chế sinh học. Con người như thế hẳn nhiên là đã bị tước đi những giá trị vĩnh hằng, vượt thời gian không gian vốn tồn hữu khi gắn với Đấng Tạo Dựng - Thượng Đế. Cái nhìn thực dụng, cắt khúc con người như triết học Mác-xít là một lối đi sẵn sàng dẫn con người tới ngõ cụt và cũng chỉ mang đậm màu sắc vật chất mà thôi. Nẻo đường vô thần của các nhà hiện sinh như J. P. Sartre, Nietzsche…với kiểu cuộc đời nôn mửa, con người là chó sói của nhau hay một thông báo giật gân Thượng Đế đã chết, quả thực đã chất chứa không ít những thái độ cực đoan và quá đà trên con đường dò tìm chân lý.

Đúng như nhận định của công đồng, điều đáng lo ngại nhất có lẽ ở những thái độ và nhãn quan thiên lệch về con người. Những lối đi này vốn có một ảnh hưởng không nhỏ với con người trong thời đại mới, đặc biệt thế hệ trẻ. Bởi vì cái nhìn tuy sai lạc nhưng kiểu dáng xem ra hợp thời trang với cuộc sống mới đang bị tục hóa.

Một cách sơ lược về bối cảnh chung trên đây cho thấy thế giới đang đứng trên bờ vực thẳm về giá trị của con người. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã không sai khi nhìn nhận con người hiện tại đang sống trong một nền văn minh sự chết. Cách này cách khác hay dưới nhiều hình thức tiềm tàng hoặc công khai, nhân phẩm đang bị gặm nhấm, bị bào mòn, thậm chí bị xúc phạm nghiêm trọng. Đó là một thực trạng đau đầu cho những ai quan tâm tới phẩm giá của con người.

2.  Xã hi Vit Nam

Bối cảnh chung là một bức tranh đầy u ám. Và điều này không còn xa lạ với xã hội Việt Nam, vì cũng cùng trên một quỹ đạo chung trong xu hướng toàn cầu hóa. Thế nhưng nếu đã một lần tìm hiểu về nhân phẩm ở Việt Nam, ít ai lại không giật mình trước những thực trạng đau lòng đang dẫm chân tại chỗ.

Xã hội Việt Nam đang từng ngày chuyển mình trên bước đường đổi mới và hòa nhịp với thế giới. Công cuộc đổi mới theo hướng mở đã và đang đạt được những thành quả nhất định, đầy tính khả quan, ít ra cũng về mặt kinh tế. Nhìn vào nhiều công trình xây dựng đồ sộ và những cuộc tổ chức tầm quốc tế hoành tráng, ai ai cũng phải tấm tắc mỉm cười. Tuy nhiên, mặt trái của công cuộc đổi mới, cũng như nhiều nhân tố khác đã để lại không ít những lộ hổng khôn lường về phẩm giá con người.

Nhìn chung nền kinh tế Việt Nam trong thập niên qua tương đối sáng sủa và mức sống người dân được cải thiện. Tuy nhiên, hơn đâu hết, tình trạng nhiều người thu nhập bạc tỷ bên cạnh không ít người chạy ăn từng bữa là hình ảnh phổ biến. Hố sâu ngăn cách người giàu - kẻ nghèo nhìn thấy rõ rệt trong từng địa phương, đặc biệt giữa nông thôn và thành thị. Chính cái nghèo và bất công đã đẩy đưa số phận người dân nghèo phải cơ cực, sống không xứng với tư cách con người và thậm chí đánh đổi cả nhân phẩm vì cái nghèo. Tình trạng hàng ngàn phụ nữ Việt Nam làm dâu xứ người như Đài Loan, Hàn Quốc... trong những năm qua cũng phần nào cho thấy cái nghèo đang thao túng số phận con người. Chỉ nổi trong năm nay, vấn đề vẫn đang nóng trên dư luận. Báo Thanh Niên số 228, ra ngày 16/ 08/ 2007 với bài viết nhiều kỳ có tựa đề Thảm cảnh cô dâu Việt Nam trên đất Hàn đã phản ảnh ít nhiều về kiếp làm vợ xứ người của phụ nữ Việt Nam. Cũng trên Báo Thanh Niên, số 267, 268, ra ngày 24-25/ 09/ 2007, các bài Đem 65 cô gái cho 2 người đàn ông chọn vợ! (Đàm Huy), Đừng để nhục Quốc thể cần xóa ngay những trại xem mắt cô dâu Việt (Thanh Thảo) đã cảnh báo một sự tha hóa trong nhân phẩm đến mức báo động. Từ đầu năm đến nay, công an TPHCM đã phát hiện 6 vụ tổ chức xem mắt cô dâu trái phép (TN, số 267). Có lẽ đây chỉ là vài tin tức phần nổi còn thực tế thật khó mà đo lường. Đó là chưa kể đến những phụ nữ Việt Nam bị rao bán ở nước ngoài. Con người như thế đã bị đem ra ngã giá như bao hàng hóa khác hay đúng hơn con người đã trở thành hàng hóa.

Ở một khía cạnh khác, vấn đề nhân phẩm còn nhức nhối hơn khi mà quyền con người không được tôn trọng, đặc biệt với phụ nữ và trẻ em. Dư luận gần đây đang phẫn nộ trước vụ em Nguyễn Thị Bình - Người bị nhục hình hơn 10 năm ở Hà Nội (Báo Phụ Nữ số 87, ngày 09/ 11/ 2007). Cũng theo Báo Phụ Nữ số 85, ngày 02/ 11 / 2007, 53,1% các vụ ly hôn ở Việt Nam trong năm năm qua có nguyên nhân từ bạo lực gia đình và một phần tư gia đình Việt Nam hiện nay đang xẩy ra bạo lực gia đình dưới các hình thức khác nhau. Bên cạnh đó, các trẻ em bị đẩy vào những đường dây buôn bán người, các trẻ em bị bỏ rơi lang thang cơ nhỡ và bị lôi cuốn vào những tội phạm nguy hiểm không phải là điều hiếm thấy ở Việt Nam. Nếu phải nói đến cả những quyền thiêng liêng như tự do, tín ngưỡng…vấn đề có lẽ còn phức tạp hơn nhiều.

Điều đáng lo ngại nhất về thực trạng nhân phẩm ở Việt Nam chính là tình trạng phá thai. Đây là một hình thức giết người nhưng lại trở nên như một trào lưu trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Theo ước tính của các nhà xã hội học, tình trạng phá thai ở Việt Nam đang là một trong những quốc gia dẫn đầu trên thế giới (đứng hàng thứ 3) và tỷ lệ này đang có khuynh hướng ngày một tăng cao. “Đây là một thứ hạng” đáng buồn, vì con số nạo phá thai hàng năm xấp xỉ với tổng số sanh toàn quốc. Một thống kê cho thấy: năm 1997 tổng số sanh toàn quốc là 1.138.607 ca, thì con số nạo phá thai là 934.302 ca (một số liệu khác của Bộ Y tế là 1.123.620 ca nạo phá thai trong năm này), năm 1998 số sanh là 1.101.791 ca, thì số nạo phá thai là 861.353 ca (Theo tổ chức Bảo vệ bà mẹ - sơ sinh Việt Nam). Dự đoán của các nhà chuyên môn quả không sai. Thống kê trong vài năm gần đây con số nạo phá thai thật kinh hoàng. Theo thạc sỹ Nguyễn Duy Aùnh, phó giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, năm 2005 Việt Nam có 1.400.000 ca nạo phá thai, trong đó 500.000 ca ở tuổi vị thành niên. Cũng theo ông, thực tế cho thấy số trẻ tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội chào đời thấp hơn số trẻ bị phá. Trong bài Thế giới không còn biết hy vọng? đăng trên nguyệt san Công giáo và dân tộc, số 146, năm 2007, Linh mục Thiện Cẩm nhìn nhận vấn đề nhân phẩm: Nhân phẩm ngày nay xuống giá rồi, chỉ còn thực phẩm lên giá thôi; lương tri bán rẻ hơn lương thực, chân lý chân giò bằng giá thôi.  Đây là một cách nói dí dỏm nghe có vẻ khó tin nhưng đó là sự thật.

Như thế, bối cảnh chung đã u ám thì bối cảnh Việt Nam lại càng tối tăm hơn. Đây là chiều kích sống còn của xã hội con người nhưng dường như lại ít được quan tâm đúng mức. Đã đến lúc cần phải gióng lên những hồi chuông báo động khẩn thiết để mọi người  không còn dửng dưng đứng nhìn hay chấp nhận một thế giới đang lâm vào đường cùng.

3.  Nhng no đường cn thiết

Vấn đề nhân phẩm không hẳn đang lúng túng tìm phương hướng giải quyết. Nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia, nhiều tổ chức cũng đang tích cực nỗ lực cho công cuộc bảo vệ nhân phẩm. Tuy nhiên, thực tế vẫn không mấy khả quan cho hiện tại và tương lai của phẩm giá con người. Vậy ta cần làm gì? Câu trả lời có lẽ cũng chỉ là những gợi ý chủ quan mà thôi.

Ở bình diện xã hội, vấn đề không thể bỏ qua là giáo dục. Một nội dung giáo dục sát với thực tế, đón đầu được thời đại, đánh giá đúng giá trị con người (ít ra cũng ở chiều kích nhân bản) và với những phương pháp hợp lý cũng là lối thoát cần thực thi. Mặt khác, cần tăng cường hơn nữa và đầu tư cho hoạt động của những tổ chức bảo vệ quyền con người, phò sự sống. Bởi vì họ đảm đương một sứ mạng lớn và cao cả là vì sự sống và quyền lợi chính đáng của con người. Có lẽ cũng đã đến lúc người ta phải nhìn nhận lại những phương cách để lại hậu quả nghiêm trọng như những điều luật cho phép phá thai hay hợp thức hóa những vấn đề coi nhẹ giá trị con người. Như thế, cần có những điều luật bảo vệ quyền và sự sống con người thích đáng hơn.

Ở bình diện đức tin, nhân phẩm mới thực sự tìm được lối thoát. Bởi khi đứng trong chiều kích của đức tin, phẩm giá của con người được khởi đi từ căn nguyên, cội nguồn của vấn đề. Chỉ có khi ta nhìn nhận đúng giá trị đích thực của con người, ta mới có được nẻo đường thích hợp để cứu vãn tình thế.  Trở lại với cái nhìn của Công đồng Vatican II, nhân phẩm đúng tầm và đúng nghĩa là con người không tách biệt với Thiên Chúa - Đấng Tạo Dựng - Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Vì thế  Giáo Hội đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu và không ai thay thế được trong việc bảo vệ nhân phẩm. Trong chiều kích ấy, một đường hướng giáo dục Kitô giáo là cần thiết cho con người trong thế giới hôm nay. Ơû Việt Nam, vấn đề này cần thiết và cấp bách đúng như mục tiêu mà Hội đồng Giám Mục đã đề ra cho đời sống đức tin năm nay. Vai trò chứng tá của người tín hữu giữa cuộc đời cũng không thể thiếu để bảo vệ và bênh vực cho nhân phẩm. Song song với sứ mạng đó, công cuộc loan báo Tin Mừng cần được đầu tư, quan tâm đúng mức. Bởi con người chỉ có thể được thăng tiến thực sự khi nhận ra được ánh sáng của Tin Mừng. Và trong Tin Mừng, con người sẽ hiểu được những chất vấn về chính mình và về cuộc đời.  Ngoài ra, trong một xã hội đa chiều, tiếng nói của Giáo Hội phải luôn được bày tỏ, nhất là trong bối xã hội Việt Nam. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II từng nói: con người là con đường của Giáo Hội. Vì thế, Giáo Hội phải là người tiên phong trong việc bảo vệ nhân phẩm.

Cuối cùng, như công đồng Vatican II đã mách bảo, tất cả mọi nẻo đường đều phải quy về Chúa Kitô. Bởi Ngài là mẫu gương nhân phẩm tuyệt hảo và chỉ có nơi Ngài, cuộc đời con người mới tìm được bến đỗ bình an và hạnh phúc đích thực.

C. KT LUN

Nhân phẩm là đề tài vượt thời gian. Ơû thời đại nào con người cũng không ngừng suy tư  về chính mình. Lịch sử tư tưởng nhân loại cho thấy, con người suy tư về mình ở mỗi thời đại không giống nhau. Có lúc người ta xem con người là ảo ảnh, lúc khác lại giản lược con người trong màu sắc vật chất, rồi khi thì quá hạ thấp con người, khi lại tôn sùng con người quá độ.…Như thế con người luôn tạo cho chính mình những chân dung hoặc phiến diện hoặc sai lạc. Và trong bối cảnh thực tại hiện nay, chân dung ấy càng bị méo mó trước ống kính muôn màu của xã hội. Đứng trước những dấu chỉ thời đại, dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần, Công đồng Vatican II đã mở ra một kỷ nguyên mới về nhân phẩm. Công đồng khép lại đã gần nửa thế kỷ nhưng giáo lý về nhân phẩm vẫn còn hơi ấm nồng nàn cho thời đại hôm nay. Ước gì ánh sáng của công đồng được lan tỏa trên khắp mặt đất để con người là hình ảnh Thiên Chúa thực sự thấm vào lòng mọi người.

TÀI LIU THAM KHO

1.         Thánh Công đồng chung Va-ti-ca-nô II (bản dịch của Phân khoa thần học Giáo Hoàng học viện thánh Piô X ). Đà Lạt, 1972.
2.         Trần Thái Đỉnh. Triết học nhập môn. Đại chủng viện Thánh Nicolas, 2004.
3.         Hoàng Văn Khanh. Nhân học Kitô giáo. Chủng viện Thánh Nicolas, 2006.
4.         Nguyễn Huy Lịch, O.P. Tìm hiểu Công đồng Vatican II để sống đạo trong đời hôm nay (tập 1-2).
           TPHCM: Đức tin & Văn hóa, 2006.
5.         Renard. Tinh thần công đồng cởi mở với đời (Huy Hà dịch). 1970.
6.         Nguyệt san Công giáo & dân tộc
7.         Báo Phu Nữ, số 87, 2/ 11/ 2007
8.         Báo Thanh Niên các số 228, 267,268, năm 2007

 

                               

 

"YÊU THƯƠNG VÀ PHỤC VỤ"

bài chia sẻ của Thầy Phaolô Hồ Phi Chỉnh

 

Bài 1: TÌM MỘT CON ĐƯỜNG

Ngày hôm nay, chúng ta rất quen với thuật ngữ “phục vụ”, nhiều lúc nó trở thành khẩu hiểu có tính khuôn sáo, một thứ phong trào có tính tổ chức mà mục đích không phải lúc nào cũng giống nhau! Vậy đâu là con đường phục vụ đích thực? Tin mừng của Gioan cho ta một mặc khải lý thú về Đức Giê-su Ki-tô: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Ngài chính là kiểu mẫu và tôn sư (master) của mọi công tác phục vụ và bác ái.

Thực vậy, Tin mừng Nhất lãm mô tả biến cố Tiệc ly bằng việc Chúa Giê-su lập Bí tích Thánh Thể, nhưng Tin mừng của Gioan không đề cập tới, thay vào đó ngài trình bày biến cố rửa chân cho các môn đệ. Sau khi rửa chân cho họ xong, Chúa Giê-su phán dạy : “ Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,14-15). Chúa Giê-su giờ đây chính là trung tâm tuyệt đối và duy nhất của sự phục vụ, Ngài là con đường và cùng đích cho mọi  định hướng thực hành. Có lẽ Gioan là người viết sau cùng và từng chứng nghiệm những sinh hoạt phụng vụ nơi các cộng đoàn tiên khởi, và có lẽ ngài thấy việc cử hành bí tích mà thiếu chiều kích thực tế thì quả là sự khập khiểng và vô nghĩa. Tình yêu chỉ bằng môi miệng chỉ là sự giả dối. Cho nên có lần Ngài nói : “ Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình”(Mt 5,23-24). Rõ ràng, Gioan muốn minh định lập trường việc cử hành bí tích phải được tô điểm bằng đời sống đức ái. Sau đây chúng ta thử đi tìm một vài ý nghĩa và bài học áp dụng:

1. Bài học

a. Phục vụ bằng thái độ khiêm nhường

Gioan ghi nhận: “Nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thất lưng mà lau” (Ga 13,4-5). Bởi vì người Do thái bấy giờ thường đi chân đất và họ có thói quen rửa chân trước khi ăn. Thói thường thì đầy tớ rửa cho chủ, con cái rửa cho cha mẹ hoặc trò rửa cho thầy. Ở đây có một nghịch lý là Chúa đã thực hiện việc rửa chân trong bữa ăn. Hơn nữa, Người thắt đai lưng như một đầy tớ để rửa cho các học trò của mình nên Phê-rô cử nự  “Thầy mà lại rửa chân cho con sao” (Ga 13,6). Đây chính là Thái độ của người phục vụ. Suốt một cuộc đời Chúa Giê-su tới để thi hành ý Cha, Ngài đã mặc lấy xác phàm giống chúng ta mọi đàng  ngoại trừ tội lỗi mặc dù với phận vị là Thiên Chúa : “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật”(Ga 1,14) . Việc rửa chân ở đây chỉ như là một trong những đỉnh cao của công trình nhập thể để làm điểm quy chiếu cho mọi thái độ vâng phục và hoạt  động bác ái. Ngài đã từng nói : “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em” (Mt 23,11). Như thế việc phục vụ đòi buộc chúng ta phải từ bỏ địa vị, danh dự để trở nên người “đầy tớ” như Đức Ki-tô đã làm “gương”.

b. Phục vụ bằng đức ái Agapê

Cũng trong bữa ăn, thánh Gioan mô tả : “Trước Lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng”. “Yêu đến cùng” ở đây phải hiểu vừa về mặt thời gian vừa về mặt mức độ. Đoạn khác Ngài nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Mặc dầu đã đến “Giờ” Ngài về cùng Cha,  nhưng Tình yêu Đức Ki-tô dành cho các môn đệ thì không cùng, chính vì thế Ngài đã muốn nên một với họ  như cành nho liên kết với Thân nho “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy” (Ga 15,4). Hành động phục vụ của Đức Ki-tô qua việc rửa chân thể hiện một tình yêu cao độ. Một vị Thiên Chúa trở nên “đầy tớ” của nhân loại. Hành động này như muốn nâng con người lên. Giờ đây tội lỗi không còn nhận chìm con người xuống đáy sâu của sự tham vọng, đố kỷ, giận hờn, tranh chấp… nhưng tình yêu Đức Ki-tô đã ban tặng cho con người một niềm hy vọng và sự sống mới, con người giờ đây đúng là “chủ của vũ trụ vạn vật” (St 1, 28). Đây chính là bài học để đời cho chúng ta, việc phục vụ là quan trọng nhưng hơn hết phải phục vụ bằng một con tim quảng đại, một tình yêu trao hiến, và nhìn nhận phậm giá cao quý của mọi con người đã được Thiên Chúa sủng ái. Việc nhìn nhận này vừa có giá trị nhân văn qua việc tôn trọng người khác và để họ lớn lên với những đặc sủng Chúa ban. Chúa trao cho mỗi người những “nén vàng” đang bị chôn giấu, vấn đề của chúng ta là làm sao để họ khám phá và bằng sức mình họ có thể tiến bước. Đằng khác việc nhìn nhận tha nhân còn giúp chúng ta ý thức rằng, chúng ta chỉ nối dài tình thương của Thiên Chúa, Ngài cần sự cộng tác của chúng ta chứ không phải làm thay. Mọi công việc phục vụ nhằm nhân danh mục đích nào khác sẽ là đi vào ngõ cụt và đáng thương. Chúng ta phục vụ, chúng ta yêu thương, chúng ta sống bởi vì chúng ta muốn họa lại hình ảnh Đức Giê-su Ki-tô trong cuộc đời – một vị Thiên Chúa đang yêu thương hết thảy mọi người.

2. Ý nghĩa của việc phục vụ

a. Dự phần với Đức Ki-tô

Điều mà Phê-rô không muốn Đức Ki-tô rửa chân cho mình vì ông vẫn nhìn sự việc theo phương diện trần thế bằng cặp mắt xác thịt, và theo lẽ đời thì Đức Ki-tô không nên làm như vậy “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!” (Ga 13, 8a). Thế nhưng Đức Ki-tô muốn dẫn đưa ông tới một đời sống thiêng liêng và thần khí, chính vì thế Ngài nói : “ Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Ga 13,8b). Người ta vẫn nói rằng, trong mười hai chi tộc Israel thì chi tộc Lê-vi không được chia phần đất, thế nhưng họ được hưởng huê lợi từ đền thờ, tức là họ được cùng dự phần với Thiên Chúa. Chính vì thế, qua việc rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giê-su muốn học trò của mình cũng được dự phần với  Ngài và hưởng hạnh phúc Thiên Quốc. Hóa ra  mỗi lần ta phục vụ nhau bằng đức ái đích thực và bằng thái độ khiêm nhường là ta đang bước vào một tương quan bằng hữu với tha nhân và tương quan thần linh với Thiên Chúa.

b. Hiệp Thông với Chúa Cha

Tin mừng của Gioan đứng trên một lập trường thần học rằng, chính việc liên kết với Đức Ki-tô mà ta được hiệp thông với Thiên Chúa Cha. Ngài nói : “Tôi và Cha, Chúng Tôi là một” (Ga 10,30) “Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,6). Thế rồi trong một lời nguyện Chúa Giê-su đã thưa với Thiên Chúa : “Lạy Cha, những người Cha đã ban cho Con, Con muốn rằng Con ở đâu, thì họ cũng ở đó với Con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của Con, vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu thương Con trước khi thế gian được tạo thành” (Ga 17,24). Như thế Đức Ki-tô là Thiên Chúa, hơn nữa Ngài là Trung gian tuyệt hảo và duy nhất để qua Trung gian này, con người và vũ trụ hưởng kiến vinh quang Thiên Chúa. Đây là một trong những luận điểm quan trọng về Ki-tô luận của Gioan, Đức Ki-tô đã đến thế gian để qua Ngài – “Thân nho”, chúng ta được liên kết với Chúa Cha. Qua Đức Ki-tô và trong Thánh Thần,  chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là Cha : “Abba!”

c. Liên kết với anh em

Đức ái qua việc phục vụ là nhịp cầu đưa ta tới tha nhan. Việc liên kết với Đức Ki-tô phải được thể hiện qua tình huynh đệ với anh em. Chúa Giê-su đã từng nói : “Mọi người sẽ nhận ra anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này : là anh em có lòng yêu thương nhau”(Ga 13,35). Chính vì thế, Chúa Giê-su mời gọi : “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13, 14-15). Việc phục vụ để ta nên giống Đức Ki-tô, để ta hiệp thông với Thiên Chúa nhưng hơn nữa để ta giao hòa với anh em. Tin mừng Mathêu có đoạn viết : “Vậy nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24). Mọi cử hành bí tích mà thiếu chiều kích bác ái và đời sống thực hành thì thật vô nghĩa. Đây là lệnh truyền của Chúa : “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em” (Mt 23,11); “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Việc phục vụ đầu tiên qua việc tha thứ lỗi lầm cho người khác, nhưng hơn nữa là đón nhận họ như là hình ảnh Thiên Chúa bằng tình yêu như Đức Ki-tô đã yêu chúng ta. Hơn hết, khi phục vụ trong thái độ khiêm tốn và yêu mến là chúng ta đang xây dựng công trình nâng cao phẩm giá con người, chúng ta đang nối dài cánh tay Đức Ki-tô làm cho hình ảnh của Thiên Chúa tỏ hiện nơi tha nhân. Con đường phục vụ đích thực quy tụ chúng ta thành anh em với nhau trong cùng một Cha, dưới cùng một trưởng tử là Đức Ki-tô và trong cùng một đức ái của Thánh Thần.

Thánh Phê-rô mời gọi: “Ơn riêng Chúa ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ lẫn nhau” (1P 4,10). Đó không còn là khẩu hiệu nhưng là căn tính của đời sống người Ki-tô hữu cũng như người môn đệ theo Đức Ki-tô. Nếu chúng ta không phục vụ bằng đức ái trọn lành thì mọi cử hành, mọi lời rao giảng trở nên vô nghĩa. Hãy nên thánh bằng một đời sống phục vụ tha nhân!

 

 

 

Bài 2 : TIN MỪNG CHO NGƯỜI NGHÈO KHÓ (còn tiếp)

Bài 3 : THÁNH HIẾN – ĐỜI CON (còn tiếp)